Thơ Nguyễn Công Trứ – Phóng khoáng và tràn đầy chất “Ngông”

0
Thơ Nguyễn Công Trứ – Phóng khoáng và tràn đầy chất “Ngông”

Nguyễn Công Trứ một nhà thơ, nhà , nhà quân sự thời nhà Nguyễn nổi tiếng. Ông làm quan dưới 3 đời vua, với nhiều tác phẩm nổi bật, thơ Nguyễn Công Trứ thể hiện sâu sắc nhân tình thế thái đương thời. Ông có một số lượng thơ khủng và giá trị được bạn đọc yêu thích. Thơ ca của Nguyễn Công Trứ xoay quanh các chủ đề như chí nam nhi, cảnh nghèo và thế thái nhân tình hay triết lý hưởng lạc. Ngay bây giờ mình hãy cùng nhau theo dõi nhé!

I. Khái quát về nhà thơ Nguyễn Công Trứ

– Nguyễn Công Trứ tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn,[1] là nhà chính trị, nhà quân sự và nhà thơ Đại Nam thời nhà Nguyễn. Ông làm quan qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

– Ông nổi bật về việc khai hoang, mộ dân trên một vùng đất lớn ở miền Bắc, và lập nhiều chiến công trong việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy chống triều đình và trong Chiến tranh Việt–Xiêm (1841–1845).

– Ông mất ngày 14/11 năm Mậu Ngọ (tức ngày 7/12/1858), thọ 80 tuổi tại quê nhà làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân.

– Nguyễn Công Trứ nổi tiếng học gioi từ nhỉ, hay làm thơ, làm văn với tính cách phóng khoáng. Cuộc đời ông là những thăng trầm trong sự nghiệp. Ông được thăng thưởng quan tước nhiều lần vì những thành tích, chiến công trong quân sự và kinh tế, tới chức thượng thư, tổng đốc[1]; nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt, nhiều lần giáng liền ba bốn cấp như năm 1841 bị kết án trảm giam hậu rồi lại được tha, năm 1843 còn bị cách tuột làm lính thú,

– Nguyễn Công Trứ là người có tài. Là một người của hành động, trải qua nhiều thăng trầm, Nguyễn Công Trứ hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời.

– Đời ông đầy giai thoại, giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, bản lĩnh trí tuệ và mang tính bình dân sâu sắc. Có thể nói thơ ông sinh động, giàu triết lý nhân văn nhưng hóm hỉnh, đó là chất thơ có được từ đời sống, lấy đời sống làm cốt lõi. Bạch vân gia huấn

II. Tuyển tập thơ Nguyễn Công Trứ hay và đầy đủ nhất

Những bài thơ Nguyễn Công Trứ luôn hấp dẫn và mang những giá trị sâu sắc lưu truyền nhiều đời vẫn vẹn nguyên. Nếu bạn là một thích thơ ca thì chắc chắn không thể bỏ lỡ những bài thơ này rồi. Hãy cùng nhau theo dõi ngay nhé!

Bài ca ngất ngưởng

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Bỏ vợ lẽ cảm tác

Mười hai bến nước, một con thuyền

Tình tự xa xôi, đố vẽ nên!

Tự biệt nhiều lời so vắn giấy

Tương tư nặng gánh chứa đầy thuyền

Rồi đây nỏ biết quên hay nhớ

Từ đó mà mang nợ với duyên

Tình ấy trăng kia như biết với

Chia làm hai nửa giọi hai bên!

Bỡn cô đào già

Liếc trông giá đáng mấy mười mươi

Đem lạng vàng mua lấy tiếng cười

Giăng xế nhưng mà cung chửa khuyết

Hoa tàn song lại nhị còn tươi

Chia đôi duyên nọ đà hơn một

Mà nét xuân kia vẹn cả mười

Vì chút tình duyên nên đằm thắm

Khéo làm cho bận khách làng chơi

Bỡn tình nhân

Tao ở nhà tao tao nhớ mi,

Nhớ mi nên phải bước ra đi.

Không đi mi nói răng không đến,

Đến thì mi nói đến làm chi.

Làm chi tao đã làm chi được,

Làm được tao làm đã lắm khi.

Ca tự biệt

Kẻ về người ở

Bồi hồi thay lúc phân kỳ

Khéo quấy người hai chữ tình si

Lửa ly biệt bầng bầng không lúc nguội!

Bát ngát trăm đường bối rối

Biệt thì dung dị, kiến thì nan

Trót đa mang khúc hát cung đàn

Nên dan díu mối tình chưa dứt

Sá nghĩ xa xôi nghìn dặm đất

Tiếc công đeo đẳng mấy năm trời

Khi ra vào tiếng nói giọng cười

Một ngày cũng là người tri kỷ

Sao nỡ để kẻ vui người tẻ

Gánh tương tư riêng nặng bề bề?

Thương thay người ở đôi quê

Nẻo đi thì nhớ, nẻo về thì thương!

Tính sao cho vẹn trăm đường?

Cách ở đời

Ăn ở sao cho trải sự đời,

Vừa lòng cũng khó, há rằng chơi?

Nghe như chọc ruột, tai làm điếc,

Giận đã căm gan, miệng .

Bởi số chạy đâu cho khỏi số?

Luỵ người nên nỗi phải chiều người.

Mặc ai, chớ để điều ân oán,

Chung cục thời chi cũng tại trời.

Cái già theo đuổi

Lão trục thiếu lai ưng bất phóng,

Nhục tuỳ vinh hậu định tu quân.

Lò âm dương san sẻ bình phân,

Con tạo hóa cầm cân nhiệm nhặt.

Mới đó đỉnh mây còn ngắt ngắt,

Phút đâu mái tuyết đã phau phau.

Cái khoá dàm là giống ở đâu,

Cứ lẽo đẽo cặp kè hiên cái.

Đôi kẻ biết sao không tỉnh lại,

Dẫu thiên hô vạn hoán cũng u ơ.

Xót cho ta biết bao giờ.

Xem thêm:  Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão) – Vẻ đẹp của con người có sức mạnh và nhân cách cao cả

Cảm tác lúc về già

Kẻ ghét song còn có kẻ ưa,

Nghĩ đâu mà lựa được cho vừa.

Khó giàu đã định thời không oán,

Khôn dại đành hay há dám từ.

Bể học dò nguồn cho chúng trẻ,

Ngày nhàn vui chuyện với người xưa.

Lâng lâng rũ rạch niềm nhân, ngã,

Gẫm thú phồn hoa đáng thế chưa.

Cảnh xa nhà

Nỗi nọ đường kia, xiết nói năng!

Đêm nằm không ngủ, biết mần răng?

Đầu ngành mấy tiếng chim kêu gió

Trước điếm năm canh chó sủa giăng

Phảng phất lòng quê khôn nén được

cuộc thế cũng

Đêm gà eo óc, trời chưa rạng

Tình tự này ai biết hay chăng?

Cầm kỳ thi tửu bài 1

Trời đất cho ta một cái tài

Giắt lưng dành để tháng ngày chơi

Dở duyên với rượu khôn từ chén

Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời

Cờ sẵn bàn son xe ngựa đó

Đàn còn phím trúc tính tình đây

Ai say, ai tỉnh, ai thua được

Ta mặc ta mà ai mặc ai!

Cầm kỳ thi tửu bài 2

Cầm, kỳ, thi, tửu,

Đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay…

Đàn năm cung réo rắt tính tình đây

Cờ đôi nước rập rình xe ngựa đó

Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ

Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà

Thú xuất trần, tiên vẫn là ta

Sánh Hoàng Thạch, Xích Tùng, ờ cũng đáng!

Thơ rằng:

Cầm tứ tiêu nhiên kỳ tứ sảng

Thi hoài lạc hĩ, tửu hoài nồng

Một chữ nhàn giá lại đáng muôn chung

Người ở thế, dẫu trăm năm là mấy?

Sách có chữ “nhân sinh thích chí”

Đem ngàn vàng chác lấy chuyện cười

Chơi cho lịch mới là chơi

Chơi cho đài các, cho người biết tay!

Tài tình, dễ mấy xưa nay!

Cầm kỳ thi tửu bài 3

Thi tửu cầm kỳ khách

Phong vân tuyết nguyệt thiên

Nợ tang bồng hẹn khách thiếu niên

Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ chí

Thơ một túi gieo vần Đỗ, Lý

Rượu lưng bầu rót chén Lưu Linh

Đàn Bá Nha gảy khúc tính tang tình

Cờ Đế Thích đi về xe pháo mã

Lúc vị ngộ Vị Tân, Sằn Dã

Lấy bút nghiên mà hẹn với non sông

Xe Thang, Văn nhất đán tao phùng

Bao nhiêu nợ tang bồng đem giả hết

Tri mệnh thức thời duy tuấn kiệt

Hữu duyên hà xứ bất phong lưu?

Ngô nhân hà cụ hà ưu?

Câu đối tự thuật

Anh em ơi, ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông tây năm bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác;

Trời đất nhé, gắng một phen này nữa, xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh.

Cây cau

Ơn chúa vun trồng kể xiết bao

Một ngày càng một rấn lên cao

Lưng đeo đai bạc, sương nào nhuốm?

Đầu đội tàn xanh, nắng chẳng vào

Buồng chất cháu con khôn xiết kể

Nhà nhiều quan khách dễ khuyên chào

Kình thiên một cột giơ tay chống

Dẫu gió lung lay cũng chẳng nao

Chí làm trai

Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc

Nợ tang bồng vay trả trả vay

Chí làm trai nam bắc đông tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể

Nhân sinh thế thuợng thuỳ vô nghệ

Lưu đắc đan tâm chiếu hãn thanh

Đã chắc ai rằng nhục rằng vinh

Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ

Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ

Quyết ra tay lèo lái trận cuồng phong.

Chí những toan xẻ núi lấp sông

Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ

Đuờng mây rộng thênh thênh cử bộ

Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo

Thảnh thơi thơ túi ruợu bầu.

Chí nam nhi

Thông minh nhất nam tử,

Yếu vi thiên hạ kỳ.

Trót sinh ra thời phải có chi chi,

Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu.

Đố kị sá chi con Tạo,

Nợ tang bồng quyết trả cho xong.

Đã xông pha bút trận thì gắng gỏi kiếm cung,

Làm cho rõ tu mi nam tử.

Trong vũ trụ đã đành phận sự,

Phải có danh mà đối với núi sông.

Đi không chẳng lẽ về không?

Chơi xuân kẻo hết xuân đi

Ngẫm cho kỹ đến bất nhân là tạo vật

Đã sinh người lại hạn lấy năm

Kể chi thằng lên bẩy, đứa lên năm

Dẫu ba vạn sáu nghìn ngày là mấy chốc?

Lại mang lấy lợi danh, vinh nhục

Cuộc đời kia lắm lúc bi hoan

E đến khi hoa rữa trăng tàn

Xuân một khắc, dễ nghìn vàng đổi chác?

Tế suy vật lý tu hành lạc

An dụng phù danh bạn thử thân

Song bất nhân mà lại chí nhân

Hạn lấy tuổi để mà chơi lấy

Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi bấy

Nếu không chơi, thiệt ấy ai bù?

Nghề chơi cũng lắm công phu!

Chữ nhàn

Thị tại môn tiền náo

Nguyệt lai môn hạ nhàn

So lao tâm lao lực cũng một đàn

Người trần thế muốn nhàn sao được?

Nên phải giữ lấy nhàn làm trước

Dẫu trời cho có tiếc, cũng xin nài

Cuộc nhân sinh chừng bảy tám chín mười mươi

Mười lăm trẻ, năm mươi già, không kể

Thoắt sinh ra thì đà khóc choé

Trần có vui sao chẳng cười khì?

Khi hỷ lạc, khi ái dục, lúc sầu bi

Chứa chi lắm một bầu nhân dục

Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc

Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?

Cầm kỳ thi tửu với giang san

Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế

Ngã kim nhật tại toạ chi địa

Cổ chi nhân tằng tiên ngã toạ chi

Ngàn muôn năm âu cũng thế ni

Ai hay hát mà ai hay nghe hát?

Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất

Để ông Tô riêng một thú thanh tao

Chữ nhàn là chữ làm sao?

Con tạo ghen ghét

Danh giả tạo vật chi sở kỵ,

Ghét chứng chi ghét mãi ghét hoài.

Lúc tuổi xanh chi khỏi cậy tài,

Sức bay nhảy tưởng ra ngoài đào chú.

Dẫu chàng hám chấn dao mấy độ,

Cũng trơ trơ trích trích không nao.

Càng phong trần danh ấy càng cao,

Dám nghĩ giỡn chơi hay ác thiệt.

Đã mang tiếng ở trong trời đất,

Phải có danh gì với núi sông.

Ấy xung chàng nghĩ cũng mếch lòng,

Nên đè nén dầy vò thời cũng phải.

Chứ như đã đến tuần lão đại,

Cuộc đời trăm việc đã vâng nhường.

Tự đỉnh đinh chẳng dám xem thường,

Mùi hoạn huống nếp phong lưu đều gác sạch.

Đem thân thế nương miền toàn thạch,

Trốn đường danh mua lấy cuộc nhàn.

Cớ sao còn dở máu ghen,

Bắt kẻ tiều lao hành khốn mãi.

Khả quái lão thiên đa ác thái,

Trẻ chẳng thương mà già cũng chẳng tha.

Tức mình muốn hỏi cho ra.

Xem thêm:  Em Mọi ơi - Bùi Giáng

Công khai thác

Nhi kim thuỷ hữu Dinh điền sứ

Phụng chỉ khai sơn hải chi nhàn điền

Sơn giai kim nhi hải giai tiền

Ngưỡng thánh đức như sơn như hải

Bể bạc vờn lên tay ngũ bái

Non vàng đứng dậy chúc tam hô

Quân tư chiêm bái hải trường lưu

Thần tiết kiên trinh sơn tự tại

Khai tự cổ bất khai chi Tiền Hải

Tịch dĩ lai vị tịch chi Kim Sơn

Phương tri ngã quốc hữu nhân

Duyên

Minh quân lương tướng tao phùng dị

Tài tử giai nhân tế ngộ nan

Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên

Trong nhất kiến tình duyên như đã

Tỳ bà hữu hạnh phùng Tư mã

Quân tử đa tình cánh khả lân

Nọ mấy người tài tử giai nhân

Duyên chỉ thắm bỗng dần dần đưa lại

Dầu nghìn dặm băng sơn quế hải

Đã tình duyên xe lại cũng nên gần

Liễu hoa vừa gặp chúa xuân

Châu Trần nào có Châu Trần này hơn

Anh hùng hà xứ bất giang sơn?

Đánh thức người đời

Xót người tiền đếm gạo lường

Thế mà cũng chịu một trường hoá sinh

Nhân sinh bất hành lạc

Thiên tuế diệc vi thường

Đã đem vào cuộc hý trường

Lại muốn theo phường thái cực

Chuồn đội mũ mượn mầu đạo đức

Thịt hay ăn một cục tham si

Gác thay thảy là cầm là kỳ là tửu là thi

Rất đỗi y quần chi hạ

Bất tri hữu thử trân mỹ giả

Ôi trời đất người đâu người thế

Mấy trăm năm là mấy trăm năm

Khiến cho lạc giả thương tâm

Đánh tổ tôm

Tổ tôm tên chữ gọi hà sào

Ðánh thì không thấp cũng không cao

Ðược thì vơ cả, thua thì chạy

Nào!

Đi thi tự vịnh

Đi không, há lẽ trở về không?

Cái nợ cầm thư phải trả xong!

Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt

Trót đem thân thế hẹn tang bồng

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

Trong cuộc trần ai, ai dễ biết?

Rồi ra mới rõ mặt anh hùng

Đời người thấm thoắt

Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi

Vạn sáu tiêu nhăng đã hết rồi!

Nhắn con tạo hoá xoay thời lại,

Để khách tang bồng rộng đất chơi.

Đùa quan đại thần

Lênh đênh một chiếc thuyền nan,

Một cô thiếu nữ một quan đại thần.

Ban ngày quan lớn như thân,

Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Ban ngày quan lớn như cha,

Ban đêm quan lớn rầy rà như con.

Đường công danh

Cùng đạt có riêng chi mệnh số

Hành tàng nào hẹn với văn chương?

Đường công danh sau trước cũng là thường

Con tạo hoá phải rằng ghen ghét mãi?

Duyên ngư thuỷ còn dành cơ hội lại

Quyết tang bồng cho phỉ chí trượng phu

Trong trần ai, ai kém ai đâu?

Tài bộ thế, khoa danh, ờ, lại có!

Thơ rằng: Độc thư thiên bất phụ

Hữu chí sự cánh thành

Giang sơn đành có cậy trông mình

Mà vội mỉa anh hùng chi bấy nhẽ?

Đã sinh ra ở trong phù thế

Nợ trần ai đành cũng tính xong

Nhắn với non sông

Giang sơn hầu dễ anh hùng mấy ai?

Thanh vân, trông đó mà coi

Gánh gạo đưa chồng

Mưỡu:

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Hát nói:

Lộ diệc vũ trùng trung chi nhất

Thương cái cò lặn lội bờ sông

Tiếng nỉ non gánh gạo đưa chồng

Ngoài nghìn dặm một trời một nước

Trông bóng nhạn bâng khuâng từng bước

Nghe tiếng quyên năm canh

Nghĩa tép tôm ai nỡ dứt tình

Ơn thuỷ thổ phải đền cho vẹn xóng

Trường tên đạn, xin chàng bảo trọng

Thiếp lui về nuôi cái cùng con

Cao Bằng cách trở nước non

Mình trong trắng có quỉ thần a hộ

Sức bay nhảy một phen năng nổ

Đá Yên Nhiên còn đó chẳng mòn

Đồng hưu rạng chép thẻ son

Chàng nên danh giá, thiếp còn trẻ trung

Yêu nhau khăng khít dải đồng

Hàn nho phong vị phú

Chém cha cái khó!

Chém cha cái khó!

Khôn khéo mấy ai?

một nó!

Lục cực bày hàng sáu, rành rành kinh huấn chẳng sai,

Vạn tội lấy làm đầu, ấy ấy ngạn ngôn hẳn có.

Kìa ai:

Bốn vách tường mo,

Ba gian nhà cỏ.

Đầu kèo mọt đục vẽ sao,

Trước cửa nhện giăng màn gió.

Phên trúc ngăn nửa bếp nửa buồng,

Ống nứa đựng đầu kê đầu đỗ.

Đầu giường tre, mối dũi quanh co,

Góc tường đất, giun đùn lố nhố.

Bóng nắng dọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô,

Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó.

Trong cũi, lợn nằm gặm máng, đói chẳng muốn kêu,

Đầu giàn, chuột cậy khua niêu, buồn thôi lại bỏ.

Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no,

Đêm năm canh, an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ.

Ấm trà góp lá bàng lá vối, pha mùi chát chát chua chua,

Miếng trầu têm vỏ mận vỏ dà, buồn miệng nhai nhai nhổ nhổ.

Áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối, bốn mùa thay đổi bấy nhiêu,

Khăn lau giắt đỏ lòm, giải làm chiếu, vận làm quần, một bộ ăn chơi quá thú.

Đỡ mồ hôi, võng lác, quạt mo,

Chống hơi đất, dép da, guốc gỗ.

Miếng ăn sẵn cà non mướp luộc, ngon khéo là ngon,

Đồ chơi nhiều quạt sậy điếu tre, của đâu những của.

Đồ chuyên trà, ấm đất sứt vòi,

Cuộc uống rượu, be sành chắp cổ.

Đồ cổ khí bức tranh treo trên vách, khói bay lem luốc, mầu thuỷ mạc lờ mờ,

Của tiểu đồng pho sách gác đầu giàn, gián nhấm lăm nhăm, dấu thổ châu đo đỏ.

Cỗ bài lá, ba đời cửa tướng, hàng văn sách mập mờ,

Bàn cờ săng, bảy kiếp nhà ma, chữ nhật chữ điền xiêu xó.

Lộc nhĩ điền lúa chất đầy rương,

Phương tịch cốc khoai vừa một rỏ.

Tiêu dụng lấy chi mà phao phóng, thường giữ ba cọc ba đồng,

Mùa màng dành để có bao nhiêu, chừng độ một chiêng một bó,

Mỏng lưng xem cũng không giầu,

Nhiều miệng lấy chi cho đủ.

Đến bữa chưa sẵn bữa, con trẻ khóc dường ong,

Qúa kỳ lại hẹn kỳ, nhà nợ kêu như ó.

Thuốc men rắp bòn chài gỡ bữa, song nghĩ câu ý dã, thế nào cho đáng giá lương y,

Thầy bà mong dối trá kiếm ăn, lại nghĩ chữ dũng như, phép chi được nổi danh pháp chủ.

Quẻ dã hạc toan nhờ lộc thánh, trút muối đổ biển, ta chẳng bõ bèn,

Huyệt chân long toan bán đất trời, ngôi mả táng cha, tìm còn chửa chỗ.

Buôn bán rắp theo nghề đỏ, song lạ mặt, chúng hòng rước gánh, mập mờ nên hàng chẳng có lời,

Bạc cờ toan gỡ con đen, chưa sẵn lưng, làng lại dành nơi, hỏi gạn mãi giạm không ra thổ.

Gâp khúc lươn, nên ít kẻ yêu vì,

Gương mắt ếch, biết vào đâu mượn mõ.

Đến lúc niên chung nguyệt quý, lấy chi tiêu đồng nợ đồng công?

Gặp khi đường xẩy chân cùng, nên phải tới cửa này cửa nọ.

Thân thỉ to to nhỏ nhỏ, ta đã mỏi cẳng ngồi trì,

Dần dà nọ nọ kia kia, nó những vuốt râu làm bộ.

Thầy tớ sợ men tìm đến cửa, ngảnh mặt cúi đầu,

e vất lấm vào lưng, chìa môi nhọn mỏ.

Láng giềng ít kẻ tới nhà,

Thân thích chẳng ai nhìn họ.

Mất việc toan dở nghề cơ tắc, tủi con nhà mà hổ mặt anh em,

Túng đường mong quyết chí cùng tư, e phép nước chưa nên gan sừng sỏ.

Cùng con cháu thuở nói năng chuyện cũ, dường ngâm câu lạc đạo vong bần,

Gặp anh em khi bàn bạc sự đời, lại đọc chữ vi nhân bất phú.

Tất do thiên, âu phận ấy là thường,

Hữu kỳ đức, ắt trời kia chẳng phụ.

Tiếc tài cả phải phạn ngưu bản trúc, dấu xưa ông Phó ông Hề,

Cần nghiệp kho khi tạc bích tụ huỳnh, thuở trước chàng Khuông chàng Vũ.

Nơi thành hạ đeo cần , kìa kìa người quốc sĩ Hoài âm,

Chốn lý trung xách thớt chia phần, nọ nọ đấng mưu thần Dương võ.

Khó ai bằng Mãi Thần Mông Chính, cũng có khi ngựa cưỡi dù che,

Giàu ai bằng Vương Khải Thạch Sùng, cũng có hội tường xiêu ngói đổ.

Xem thêm:  Chờ lời em trao - Hoa Cúc Vàng Anh

Mới biết:

Khó bởi tại trời,

Giàu là cái số.

Dầu ai ruộng sâu trâu nái, đụn lúa kho tiền,

Cũng bất quá thủ tài chi lỗ.

Hành tàng

Đánh ba chén rượu khoanh tay giấc

Ngâm một câu thơ, vỗ bụng cười

Cái công danh là cái nợ đời

Đường thản lý, cát nhẫn chi đã vội

Giắt lỏng giang sơn vào nửa túi

Rót nghiêng phong nguyệt cạn lưng bầu

Cảnh cùng thông ai có bận chi đâu

Mùi tiêu sái với trần gian dễ mấy

Thơ rằng:

Hữu danh nhàn phú quý

Vô sự tiểu thần tiên

Đấng anh hùng yên phận lạc thiên

So trời đất cũng nhất ban xuân ý

Khi lang miếu đã đành công danh ấy

Lúc yên hà khước thị xuất nhân gian

Hành tàng bất nhị kỳ quan

Cõi đời mở mặt, giang san thái hoà

Còn xuân mai lại còn hoa.

Hoạ bài Than nghề của Đình Trai

Tám vạn nghìn tư thứ ngỗng nghề,

Thứ nghề áo mũ thứ nghề nghê!

Mày râu ngắm lại lòng thêm hổ,

Thư kiếm sao đành dạ bỏ bê.

Xanh đỏ rẻ cùi khoe tốt mã,

Phong lưu khỉ gió hót đầy sề.

Xin đừng giở thói văn chương nữa,

Bán chó sao ngoài lại thủ dê?

Kẻ sĩ

Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,

Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên.

Có giang sơn thì sĩ đã có tên,

Từ Chu, Hán, vốn sĩ này là quý.

Miền hương đảng đã khen rằng hiếu nghị

Đạo lập thân phải giữ lấy cương thường

Khí hạo nhiên chí đại chí cương

So chính khí đã đầy trong trời đất.

Lúc vị ngộ, hối tàng nơi bồng tất

Hiêu hiêu nhiên điếu Vị, canh Sằn

Xe bồ luân dù chưa gặp Thang, Văn

Phù thế giáo một vài câu thanh nghị.

Cầm chính đạo để tịch tà cự bí

Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên

Rồng mây khi gặp hội ưa duyên

Mang quách cả sở tồn làm sở dụng.

Trong lang miếu ra tài lương đống

Ngoài biên thuỳ rạch mũi Can Tương

Làm sao cho bách thế lưu phương

Trước là sĩ, sau là khanh tướng.

Kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hung trung,

Vũ trụ chi gian giai phận sự, nam nhi đáo thử thị hào hùng.

Nước nhà yên mà sĩ được thung dung

Bấy giờ sĩ mới tìm ông Hoàng Thạch

Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch

Tiêu dao nơi hàn cốc thanh sơn

Nào thơ, nào rượu, nào địch, nào đờn

Đồ thích chí chất đầy trong một túi.

Mặc ai hỏi, mặc ai không hỏi tới

Gẫm việc đời mà ngắm kẻ trọc thanh

Này này sĩ mới hoàn danh.

Khất nợ thua tổ tôm

Thân bát văn tôi đã xác vờ.

Trong nhà còn biết bán chi giờ?

Của trời cũng muốn không thang bắc,

Lộc thánh còn mong lục sách chờ.

Thiên tử nhất văn rồi chẳng thiếu.

Nhân sinh tam vạn hãy còn thừa.

Đã không nhất sách kêu chi nữa?

Ông lão tha cho cũng được nhờ!

Tương truyền lúc thiếu thời, Nguyễn Công Trứ có lần đánh tổ tôm bị thua nợ tiền một ông lão. Nhiều lần bị ông lão đòi tiền mà không có để trả, Nguyễn Công Trứ làm bài thơ này để xin được khất nợ. Mỗi câu trong bài đều dùng tên một con bài trong tổ tôm, nhưng trong câu lại mang nghĩa khác.

Khuyên người đời

Cho hay thiên hạ khéo xem gương

Hễ khó thời thôi mấy kẻ màng

Miệng nói đã đành mua chuyện ghét

Tay không chưa dễ ép người thương

Khéo khôn ai cũng tranh phần được

Trong sạch ta thời giữ mực thường

Ði lại chẳng qua thời với mệnh

Cũng đừng thắc mắc, chớ lo lưòng.

Làm quan bị cách

Tuổi tác tuy rằng chửa mấy mươi

Ðổi thay mắt đã thấy ba đời

Ra trường danh lợi, vinh liền nhục

Vào cuộc trần ai, khóc trước cười

Chuyện cũ trải qua đà chán mắt

Việc sau nghĩ lại chẳng thừa hơi

Ðã hay đường cái thời ra thế

Sạch nợ tang bồng mới kể ngươi.

Lời tiểu thiếp tự tình

Buồn sực nhớ đài trang cảnh cũ

Nhớ trượng phu trong dạ bàn hoàn

Mái tây sơn sương tỏa mấy lần

Thân cái nhện không vò mà cũng rối

Chỉn tại tơ hồng trêu quấy nỗi

Há rằng dây đỏ ghét ghen chi

Chốn cô phòng năn nỉ với cầm thi

Đường viễn hoạn ngõ hầu tình chăng nhẽ?

Trong trần thế sầu lây mấy kẻ

Giọng Hà Đông thêm cám cảnh cho ai!

Xin cho giời đất lâu dài

Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru?

Thấu tình chăng kẻ trượng phu?

Muộn thành đạt

Cảnh muộn, đi về nghĩ cũng rầu

Trông gương mà thẹn với hàm râu!

Có từng gian hiểm, mình càng trí

Song lắm phong trần, lụy cũng sâu

Năm ấy đã qua thời chẳng lại

Lộc kia có muộn mới còn lâu

Khi vui giễu cợt mà chơi vậy

Tuổi tác ngần này đã chịu đâu!

Nghĩa người đời

Ba vạn sáu nghìn ngày thấm thoắt,

Tự mọc răng cho tới bạc đầu.

Cõi nhục vinh góp lại có bao lâu?

Ngồi thử gẫm thợ trời thêm khéo quá!

Núi tự tại, cớ sao sông bất xả,

Chim thì lông, hoa thì cánh, công đâu tạo hoá khéo thừa trừ

Từ nghìn trước đến nghìn sau,

Kết cục lại một người riêng một kiếp.

Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp

Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân

Mà chữ “danh” liền với chữ “thân”

Thân đã có ắt là danh phải có!

Này phút chốc kim rồi lại cổ,

Có hẹn gì sau, chẳng bằng nay.

Râu mày kia hỡi râu mày!

Những áng thơ của Nguyễn Công Trứ được người đọc yêu thích bởi chất thơ phóng khoáng, dung dị và thể hiện rõ tâm tư, tình cảm của nhà thơ. Qua đó chúng ta nắm được phong cách sáng tác ấn tượng của ông. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi nhé!

Xem đầy đủ thơ Nguyễn Công Trứ:

  1. Thơ Nguyễn Công Trứ – Phóng khoáng và tràn đầy chất “Ngông” Phần 1
  2. Thơ Nguyễn Công Trứ – Phóng khoáng và tràn đầy chất “Ngông” Phần 2

Theo Baithohay.com