Thơ Hồ Xuân Hương: những kiêt tác bất hủ của bà chúa thơ Nôm

0
Thơ Hồ Xuân Hương: những kiêt tác bất hủ của bà chúa thơ Nôm

Thơ khá phong phú, đa dạng về đề tài, chủ đề. Bà được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”. Những sáng tác của bà sống mãi với thời gian, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Hồ Xuân Hương là một người thông minh, có học và giao du rộng rãi với các nhà văn, nhà thơ thời bấy giờ.Những sáng tác của Hồ Xuân Hương không chỉ có giá trị sâu sắc về mặt nội dung mà còn cho thấy phong cách nghệ thuật hết sức độc đáo. Hãy cùng nhau theo dõi những trang thơ của bà nhé!

Tuyển tập những bài thơ Nôm đặc sắc nhất của Hồ Xuân Hương

Thơ của Hồ Xuân Hương táo bạo, nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo và ẩn chứa nhiều nét văn hóa dân gian phồn thực thú vị. Thơ bà là sự kết hợp giữa sự hóm hỉnh sâu cay, nỗi đau với , và sự ngạo nghễ trong tinh thần.Những tác phẩm chính của bà đến nay được lưu truyền chủ yếu là những bài thơ Nôm với khoảng năm mươi bài được in trong tập thơ “ Xuân Hương thi tập”. Đây là tập thơ Nôm xuất sắc của nền văn học dân tộc.Sau đây là một số bài thơ như thế.

CẢNH THU

Thánh thót tầu tiêu mấy giọt mưa,

Bút thần khôn vẽ cảnh tiếu sơ,

Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,

Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.

Bầu dốc giang sơn say chấp rượu,

Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ

Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,

Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.

CHẾ SƯ

Chẳng phải Ngô chẳng phải ta

Đầu thì trọc lốc áo không tà

Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm

Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà

Khi cảnh khi tiu khi chũm choẹ

Giọng hì giọng hỉ giọng hi ha

Tu lâu có nhẽ lên sư cụ

Ngất nghểu toà sen nọ đó mà

CHƠI KHÁN ĐÀI

Êm ái chiều xuân tới Khán Đài

Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai

Bốn mùa triêu mộ, chuông gầm sóng

Một vũng tang thương, nước lộn trời

Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn

Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi

Nào là cực lạc là đâu tá?

Cực lạc là đây, chín rõ mười

CHÙA HƯƠNG TÍCH

Bày đặt vì ai khéo khéo vòm

Nứt ra một lỗ hổng hòm hom

Người quen cửa Phật chen chân xọc

Kẻ lạ bầu Tiên mỏi mắt dòm

Giọt nước hữu tình rơi thánh thót

Con thuyền vô trạo cúi lom khom

Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại

Rõ khéo trời già đến dở dom

CHÙA SÀI SƠN

Khen thay con tạo khéo khôn phàm

Một đố giương ra biết mấy ngàm

Triền đá cỏ leo sờ rậm rạp

Lạch khe nước rỉ mó lam nham

Một sư đầu trọc ngồi khua mõ

Hai tiểu lưng tròn đứng giữ am

Đến nơi mới biết rằng Thánh Hoá

Chồn chân mỏi gối hãy còn ham

DU CỔ TỰ

Thầy tớ thong dong dạo cảnh chùa

Cầm thư lưng túi rượu lưng hồ

Cá khe lắng kệ đầu ngơ ngác

Chim núi nghe kinh cổ gật gù

Then cửa từ bi nêm chật cánh

Nén hương tế độ cắm đầy lò

Nhà sư ướm hỏi nhà sư tí

Phúc đức nhà ngươi được mấy bồ

DỮ PHẠM TẾ TỬU XƯỚNG HỌA kỳ 2

Kìa ai tỉnh, kìa ai say

Kìa ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày

Khoan khoan xin hãy dừng tay lại

Chớ mó hang hùm nữa mất tay

ĐÁ ÔNG BÀ CHỒNG

Khéo khéo bày trò tạo hoá công

Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng

Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc

Thớt dưới sương pha đượm má hồng

Gan nghĩa dãi ra cùng chị Nguyệt

Khối tình cọ mãi với non sông

Đá kia còn biết xuân già giặn

Chả trách người ta lúc trẻ trung

Xem thêm:  Chùm thơ viết về nghề lao công, quét rác hay nhất

ĐÁNH ĐU

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,

Người thì lên đánh kẻ ngồi trông,

Trai co gối hạc khom khom cật

Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,

Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

Chơi xuân đã biết xuân chăng tá.

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!

ĐỀ NHỊ MĨ NHÂN ĐỒ

Ấy bao nhiêu tuổi hỡi cô mình

Chị cũng xinh mà em cũng xinh

Trăm vẻ như in tờ giấy trắng

Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh

Phiếu mai chăng dám đường kia nọ

Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh

Có một thú vui sao chẳng vẽ

Trách người thợ ấy khéo vô tình

HANG CẮC CỚ

Trời đất sinh ra đá một chòm

Nứt làm đôi mảnh hổng hòm hom

Kẽ hầm rêu mọc trơ toen hoẻn

Luồng gió thông reo vỗ phập phòm

Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm

Con đường vô ngạn tối om om

Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc

Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm

HÀNG Ư THANH

Ðứng tréo trông ra cảnh hắt heo

Ðường đi thiên thẹo quán cheo leo

Lợp lều mái cỏ tranh xơ xác

Xỏ kẽ kèo tre đốt khẳng kheo

Ba chạc cây xanh hình uốn éo

Một dòng nước biếc cỏ lèo tèo

Thú vui quên cả niềm lo cũ

Kìa cái diều ai gió lộn lèo

NÚI BA ĐÈO

Một đèo một đèo lại một đèo

Khen ai khéo vẽ cảnh cheo leo

Cửa son tía ngắt lơ thơ móc

Đường đá xanh rì lún phún rêu

Phưởng phất chồi thông cơn gió tốc

Mịt mờ ngọn cỏ lúc sương gieo

Hiền nhân quân tử ai là chẳng

Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo

NÚI KẼM TRỐNG

Hai bên thời núi giữa thời sông

Có phải đây là Kẽm Trống không

Gió vật sườn non kêu lắc rắc

Sóng dồn mặt nước vỗ long bong

TRÁCH CHIÊU HỔ

Sao nói rằng năm lại có ba?

Trách người quân tử hẹn sai ra.

Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,

Nhớ hái cho xin nắm lá đa.

CHIÊU HỔ HỌA LẠI:

Rằng gián thì năm, quý có ba

Bởi người thục nữ tính không ra.

Ừ rồi, thong thả lên chơi nguyệt

Cho cả cành đa lẫn củ đa.

Những bài thơ Nôm dí dỏm, sâu cay

Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương có thể nói là những bài thơ xuất sắc và độc đáo nhất của văn học trung đại Việt Nam. Thơ của bà táo bạo, nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo và ẩn chứa nhiều nét văn hóa dân gian phồn thực thú vị. Thơ bà là sự kết hợp giữa sự hóm hỉnh sâu cay, nỗi đau với cuộc đời, và sự ngạo nghễ trong tinh thần.

HỎI TRĂNG

bài 1

Một trái trăng thu chín mõm mòm,

Nảy vừng quế đỏ đỏ lòm lom!

Giữa in chiếc bích khuôn còn méo,

Ngoài khép đôi cung cánh vẫn khòm.

Ghét mặt kẻ trần đua xói móc,

Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom.

Hỡi người bẻ quế rằng ai đó,

Đó có Hằng Nga ghé mắt dòm.

KHÓC TỔNG CÓC

Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé

Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi

LỠM HỌC TRÒ

Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

Lại đây chị dạy lối làm thơ

Bướm non ngứa lợi châm hoa rữa

Dê bé buồn sừng húc giậu thưa

MỜI TRẦU

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi

Xem thêm:  Bài thơ Tết về quê – Nhà thơ Nguyễn Đình Huân

NHĨ HÀ TỨC CẢNH

Thấp thoáng đầu ghềnh lún phún mưa

Đố ai vẽ được cảnh tiêu sơ

Xanh om cổ thụ tròn như tán

Trắng xóa tràng giang phẳng ngỡ tờ

Còi mục thét trăng miền khoáng dã

Lưới ngư chăng gió bãi bình sa

Chuông ai đứt nối bên kia tá

Lầm lỡ chung tình một túi thơ

QUÁN SỨ TỰ

Quán Sứ chùa xưa cảnh vắng teo

Thương ôi sư đã hóa ra mèo

Sáng banh vắng kẻ khua dùi mõ

Trưa trật không người quét kẽ rêu

Chí chát chày kình im lại đấm

Lầm rầm tràng hạt đếm cùng đeo

Buồm từ cũng rắp sang Tây Trúc

Gió vật cho nên phải lộn lèo

SƯ HOẠNH DÂM

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo

Làm chi một chút tẻo tèo teo

Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc

Trái gió cho nên phải lộn lèo

TỰ TÌNH

Tiếng gà xao xác gáy trên vòm

Oán hận trông ra khắp mọi chòm

Mõ thảm không khua mà cũng cốc

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om

Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ

Sau hận vì duyên để mõm mòm

Tài tử văn nhân ai đó tá

Thân này đâu đã chịu già tom

CANH KHUYA

Canh khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan mấy nước non

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy chòm

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình son trẻ tí con con

TIỄN NGƯỜI LÀM THƠ

Dắt díu đưa nhau đến cửa chiền

Cũng đòi học nói nói không nên

Ai về nhắn nhủ phường lòi tói

Muốn sống đem vôi quét trả đền

TỨC SỰ

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng

Nín đi kẻo thẹn mấy non sông

Ai về nhắn nhủ đàn em nhé

Xấu máu thời khem miếng đỉnh chung

VỊNH ĐỜI NGƯỜI

Trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày

Dẫu có ngàn vàng khó đổi thay

Trong núi ngàn năm cây vẫn có

Dưới trần trăm tuổi dễ không ai

Nghĩ đường lòng thêm chán

Thấy kẻ gian ngoan bụng lại đầy

Đắng xót ghê thay mùi tục lụy

Bực mình theo Cuội tới cung mây

VỊNH NẰM NGỦ

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông

Tiên nữ nằm chơi quá giấc nồng

Lược trúc chải cài trên

Yếm đào trễ xuống dưới nương long

Ðôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm

Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt

Ði thì cũng dở ở sao xong

Chùm thơ hay viết về thân của Hồ Xuân Hương

Ở thơ của Hồ Xuân Hương có tình yêu về gia đình, quê hương, đất nước. Tuy nhiên, nét đặc sắc nhất làm nên thương hiệu của Hồ Xuân Hương đó là những bài thơ viết về những người phụ nữ có bất hạnh, nổi trội trong xã hội phong kiến.Là nhà thơ nữ viết về phụ nữ, Hồ Xuân Hương đã có rất nhiều tác phẩm đặc sắc viết về cuộc đời và thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa. Xin giới thiệu đến bạn các bạn chùm thơ hay viết về thân phận đàn bà của Hồ Xuân Hương, hãy cùng tham khảo nhé!

CÁI QUẠT

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa

Duyên này tác hợp tự ngàn xưa

Chành ra ba góc da còn thiếu

Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa

(Quốc văn tùng ký)

Bài này trong văn bản chỉ có 4 câu, các bản quốc ngữ sau này có thêm 4 câu nữa:

Mát mặt khi tắt gió

Che đầu quân tử lúc sa mưa

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng

Phì phạch trong lòng đã sướng chưa

Xem thêm:  Bài thơ Hãy nói lời từ biệt nghe anh – Nhà thơ Mạc Phương

BÁNH TRÔI NƯỚC

Thân em thời trắng phận em tròn

Bảy nổi ba chìm mấy nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son

LẤY CHỒNG CHUNG

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

Năm chừng mười họa hay chăng chớ

Một tháng đôi lần có cũng không

Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng

Cầm bằng làm mướn mướn không công

Nỗi này ví biết dường này nhỉ

Thời trước thôi đành ở vậy xong

THƯƠNG ÔI PHẬN GÁI

Thương ôi phận gái cũng là chồng

Ghét bỏ nhau chi hỡi Nguyệt ông

Rồng tắm ao tù từng phận tủi

Mưa gieo xuống giếng uổng lòng mong

Xót thân song lầm cát

Thẹn mặt trần ai đứng giữa vòng

Âu hẳn tiền nhân sao đấy tá

Thôi đành một kiếp thế cho xong

ƯƠNG ÔI PHẬN GÁI

Thương thay phận gái cũng là người

Nỡ bỏ xuân xanh quá nửa đời

Ông Nguyệt nỡ nào trêu quải mãi

Chị Hằng khéo nhẽ éo le thôi

Hoa còn phong nhụy ong ve vãy

Gió đã phai hương bướm tả tơi

Quá ngán thợ trời ghê gớm bấy

Xuân xanh được mấy chút thương ôi

THÂN PHẬN NGƯỜI ĐÀN BÀ

Hỡi chị có biết không

Một bên con khóc một bên chồng.

Bố cu lổm ngồm bò trên bụng,

Thằng bé hu hơ khóc dưới hông.

Tất cả những là thu với vén

Vội vàng nào những bống cùng bông.

Chồng con cái nợ là như thế,

Hỡi chị em ơi có biết không?

VÔ ÂM NỮ

Mười hai bà mụ ghét gì nhau

Đem cái xuân tình cắm ở đâu

Rúc rích thây cha con chuột nhắt

Vo ve mặc mẹ cái ong bầu

Nào ai biết được vông hay chóc

Nọ kẻ chia ra cuống mấy đầu

Thôi thế thời thôi thôi cũng rảnh

Trăm năm càng khỏi tiếng làm dâu

THU VŨ

(Mưa Thu)

Thiên cách vân âm thảm bất minh,

Tiêu tiêu thu vũ lạc nhàn đình.

Đoản trường khô thụ chi đầu lệ,

Thư cấp hoàng tiêu diệp thượng thanh.

Ngâm đoạn đê mê thiên lý mộng,

Sầu khiên liêu lạc ngũ canh tình.

Thâm khuê tối khổ như hoa diện,

Nhất phiến sầu dung hoạ bất thành.

Bản dịch:

Trời cách mây mù thảm chả xanh,

Mưa thu sân vắng giọt buồn tanh.

Đầu cành cây héo châu dài vắn,

Trên lá tiêu vàng tiếng chậm thanh.

Hát dứt đê mê mơ vạn dặm,

Sầu giăng quạnh quẽ nỗi năm canh.

Khuê sâu rất khổ mày hoa ấy,

Vẻ mặt buồn thương vẽ chẳng thành.

ĐÁNH CỜ

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,

Ðốt đèn lên đánh cuộc cờ người.

Hẹn rằng đấu trí mà chơi,

Cấm ngoại thuỷ không ai được biết.

Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,

Ðể đôi ta quyết liệt một phen.

Quân thiếp trắng, quân chàng đen,

Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa.

Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa,

Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.

Hai xe hà, chàng gác hai bên,

Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.

Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,

Ðem tốt đầu dú dí vô cung,

Thiếp đang mắc nước xe lồng,

Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.

Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu,

Thua thì thua quyết níu lấy con.

Khi vui nước nước non non,

Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.

Vừa rồi là những bài thơ hay nhất của Hồ Xuân Hương mà tôi muốn gửi đến các bạn, hi vọng rằng các bạn cũng sẽ thích và yêu mến những áng thơ mang đầy tâm trạng và ý nghĩa này. Hãy thường xuyên truy cập Baithohay.com để khám phá thêm nhiều hơn các bài thơ hay khác như thơ tình Puskin,thơ tình và các dòng thơ khác nữa bạn nhé!

Theo Baithohay.com