Làng tôi – Nguyễn Bính

0
Làng tôi  –  Nguyễn Bính

Trích trường ca

Làng tôi cũng có sông cùng núi

Núi nhỏ, con sông chảy lặng lờ

Lụt năm Tỵ1 dân xiêu đi quá nửa

Làng đã nghèo, càng nghèo xác nghèo xơ

Nhà cửa dỡ bán củi ăn từng bữa

Rau má bờ đê đẽo nhẵn lì

Ba sào ruộng đồi cơm thiu một nắm

Ăn hết vèo, mai biết sống bằng chi

Nền nhà trống, ếch kêu chân lỗ cột

Vườn hoang tàn, bạc phếch ánh trăng soi

Người lũ lượt kéo nhau đi hành khất

Cha dìu con… gục xuống, mòn hơi rồi

Anh em nhà lý trưởng Cời

Thừa lúc làng xiêu dân đói

Ruộng đất phình ra, văn tự nứt hòm gian

Dinh cơ lớn mọc thêm nhiều mái ngói…

Tôi mười một mười hai còn đóng khố

Phải ẵm em cho mẹ, mẹ làm thuê

Chiều hôm bụng đói, em thì quấy

Ngóng mẹ đường thôn túm gạo về

Trời nhập nhoạng, bếp um lửa khói

Đèn khô phao, nền đất dọn ăn thầm

Nhai nhếu nháo, sờ mồm em, mẹ mớm

Lưng vực xong, mẹ giũ chiếu đi nằm

Có thím Hợi mù lòa cạnh vách

(Trận lụt làm chết sạch cả chồng con)

Cứ tối tối thím kể Bần nữ thán2

Tỉ tê giọng oán câu hờn…

Thím ngày tháng hát xẩm rong độ nhật

Chỉ lo phiền chết chẳng áo quan chôn

Bến đò vắng, phiên chợ làng cũng vắng

Vắng tiếng tiền chinh gieo rạn đáy thau mòn…

Giọng thím hát mỏi mòn, ẩm ướt

Trộn đầy nước mắt, mưa thu

Nghe mẹ thở dài, biết mẹ còn trằn trọc

Chắc mẹ thương thân, lại nhớ sự tình xưa

*

Mẹ tôi

Con gái làng Mai

Ai cũng phải khen rằng đẹp

Giọng hát hay nghe cứ rót vào tai

Tài cấy gặt đố người nào đuổi kịp

Mười tám tuổi gả về xóm Núi

Phá đất sườn non, vợ cuốc chồng cày

Bốn bận sinh, còn lại một trai một gái

Lý trưởng bắt chồng đăng lính sang Tây

“Thùng thùng trống đánh ngũ liên

Bước chân xuống thuyền…”

Vợ chồng đôi ngả

Con sông chảy mãi về đâu?

Bóng núi đè thâm mái rạ…

Một hôm có giấy quan về

(Ngỡ thế nào kia

Ngờ đâu ra thế!)

Lý Cời qua ngõ tạt vào

Rượu vẫn còn say bí tỉ

Tờ giấy mở ra

Trắng lốp một màu tang chế

“Này chị ấy ơi

Giấy trên vừa mới chạy về

Chồng chị chết rồi, bên nước mẹ

Chính phủ Lang Sa

Đền công chồng chị

Đây tấm bằng suất đội kèm theo

Chữ kí quan Tây

Triện đồng đỏ chóe

Chị giữ lấy mà treo

Một bước lên bà

Sướng nhé!”

Hắn vê ria mép cười tình

Nhay nháy mắt lươn ti hí

“Này! Lo lợn gạo mà khao

Bà đội nhà tôi ơi! Lệ làng phải thế

Có cần tiêu, tôi ứng tiền cho

Muốn trả, muốn không, tùy bụng chị.

Cứ ừ một tiếng là xong

Bà cả nó vốn hiền lành, tử tế…

Người thế kia mà lận đận chồng con

Nghĩ thương đáo để!”

Hắn về rồi, hơi rượu vẫn còn hăng

Trời đất tối rầm, đầu gối run lên muốn quỵ

Nước mắt dài hơn người

Lòng rối như canh hẹ

Con thơ níu áo hỏi dồn:

“Ông lý cho gì hở mẹ?”

Xem thêm:  Bài thơ Ốc mượn hồn – Nhà thơ Nguyễn Đình Huân

Thế là

Áo trái đường khâu

Chèn thêm chốt cửa

Bỏ ngoài tai câu ý câu tình

Sụp vành nón, hội hè chẳng ngó

Giọng hát véo von

Mẹ dành để ru con ngủ

“Ạ ời ơi

Cái ngủ mày ngủ cho lâu

Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về…”

Ăn đói làm thuê

Cơm niêu nước lọ

Mẹ ở vậy nuôi con

Tháng năm vò võ…

Tôi có thằng bạn nhỏ

Bằng tuổi nhau, nghèo khổ cũng ngang nhau

Bố nó bỏ làng bán mình cho Sở mộ3

Giữa bể Đông, bão lớn, chìm tàu…

Tên nó là Đinh, mặt mày rắn cấc

Có tài bắn súng cao su

Trăm phát chẳng sai một phát

Chạng ổi giơ cao, viên đạn đất bay vù…

Nó mấy năm ròng lẽo đẽo

Ở chăn trâu cho nhà lý trưởng Cời

No đòn vọt mà đói cơm đói cháo

Vết lằn roi không kịp lặn trên người

Rỏ máu mắt ngủ bên ổ chó

Ngậm bồ hòn than thở cùng trâu

Vợ lý trưởng bắc ghế ngồi chửi rủa

Đào cha ông mồ mả đổ lên đầu

Đinh thả trâu quanh sườn núi bờ sông

Bắn chim chóc giấu đem về cho mẹ

Rau má độn cơm, bà chẳng bữa nào no

Người phù thũng, da vàng như xát nghệ

Bỗng một hôm Đinh chạy đến tìm tôi

Mặt tím lại, mắt đỏ hoe muốn khóc

Giơ lưng, lật áo cho xem

Máu chảy thành dòng

Lằn roi vọt quất ngang quất dọc:

“Mày ở nhà thôi, khổ quá, tao đi

Xó chợ, đầu đường, ra Đông4, ra Bắc5

Cũng cứ liệu thôi!

Ở với nó có ngày chết mất!”

Nói rồi nó bỏ đi luôn

Tôi đứng nhìn theo quệt ngang nước mắt

Nhưng ngay chiều ấy

Đinh lại quay về

Nó đứng đầu hè

Khẽ máy tôi ra, thủ thỉ

“Mày ơi, nghĩ lại không đành

Đi thì yên một thân tao

Mẹ ốm, lấy ai nuôi mẹ?

Cái kiếp thằng tao

Sao mà khổ thế!

Tí nữa đây tao ló mặt về

Cầm chắc ăn đòn bội nhị”

Nó lắc đầu, ra vẻ muốn quên đi

Những trận đòn đau sắp tới:

“Thôi lại sáng mai

Bến đò nhé, cõng em theo, tớ đợi

Bờ sông lúc nãy tớ đi qua

Sáo sậu về vô khối

Ngày mai bắt sống một con chơi

Lột lưỡi dạy cho nó nói…”

*

Tết đến, xuân về

Phây phây mưa bụi

Xanh non lá lộc nhú cành khô

Tím nhạt hoa xoan rơi ngõ lội

Xuân vui nhà ngói nhà lim

Xuân chẳng vui gì nhà tre xóm Núi

Nhà lý trưởng Cời

Pháo đốt điếc tai từ sáng tinh mơ tới tối

Nhà tôi tết đến cũng như không

Ba nén hương đen

Thơm chẳng có thơm nhưng cũng khói

Xem thêm:  Bài thơ về cây đặc sắc được yêu thích nhất của nhà thơ Đinh Xuân Tửu

Xong tết bên sông làng mở hội

Một hàng cờ cắm đỏ đuôi nheo

Mặt sông chẳng ngớt đò qua lại

Vách núi ầm vang tiếng trống chèo

Ba gian đình cổ người đông nghịt

Trống cái, dùi găng, lý trưởng dẻo tay chầu

Tôi rủ Đinh chen vào góc cột

Chèo Thạch Sanh đang dọn lớp giáo đầu

Hồi trống giãn trò vừa dứt

Cũng vừa gà gáy sang canh

Sương trắng mù sông, gió tháng giêng vẫn lạnh

Hai trẻ nhà nghèo manh áo vá phong phanh

Đò trở ngang sông

Đinh ghé tai tôi nói nhỏ:

“Lúc nãy tao trông lão lý trưởng Cời

Sao giống hết Lý Thông, mày ạ!

Cũng ria mép đen thui,

Cũng mắt lươn trắng dã

Từ rày đừng gọi Lý Cời

Cứ gọi Lý Thông, nhớ nhá!”

Sau đêm chèo lòng tôi tơ tưởng mãi

Tôi thường bàn tán với Đinh

Thương họ Thạch hàn vi côi cút

Ôi, cảnh chàng ta sao giống cảnh tụi mình

Đêm rặt nằm mơ tiên cho phép lạ

Thấy gốc đa nào cũng ngỡ có Thạch Sanh…

Đinh vội cướp lời, kể lể

“Tao cũng thế, cũng nằm mơ thấy thế

Tao đương cắt cỏ bờ sông

Tiên hiện lên, dạy nhiều phép thần thông

Tao tức tốc chạy về nhà lý trưởng

Thằng Lý Cời – thằng Lý Thông luống cuống

Vội vàng nó hóa Trăn Tinh

Phun lửa đốt tao, lửa bốc tày đình

Tao không sợ, tao liền hóa phép

Chăng lưới thép, giơ búa thần lẫm liệt

Chém đứt đầu trăn máu chảy ròng ròng…”

Hai đứa nhìn nhau thích chí

Tưởng đâu đời sắp sướng rồi

Như họ Thạch hết hồi bĩ cực

Được gảy đàn thần, cưới vợ, lên ngôi…

Nhưng rồi, hai đứa chúng tôi

Sự thật ngày thêm cơ cực quá

Chẳng một lần được tiên cho phép lạ

Những giấc mơ theo ngày tháng tàn phai

Xóm Núi, làng Mai

Nghèo đói càng thêm nghèo đói

Thím Hợi hát rong không sống nổi

Chậu thau mòn bán rẻ tự hồi xưa

Bị gậy xin ăn, cơm cặn canh thừa

Đêm mưa tối vẫn kể Bần nữ thán

Mẹ tôi da dẻ ngày đen sạm

Kỳ giở giời lưng nhức chân tê

Những hôm mưa gió dầm dề

Ba mẹ con chỉ ngày lưng bát cháo

Nghèo rớt mồng tơi

Không mua nổi chỉ kim vá áo

Những chỗ rách to đành buộc túm bằng rơm

Thằng bạn Đinh mấy bận ngỡ đi luôn

Mấy bận lại quay về chịu đánh

Lưng cháy nắng lại roi lằn máu quánh

Súng cao su không bắn chết được chằn tinh

Xám ngắt ao tù

Ngày tháng quẩn quanh

Cùng đường nghẽn lối

Lý trưởng Cời cây thóc cao ngang núi

Xây nhà tây chót vót hai tầng

Cửa sổ há ra như mồm những con trăn

Muốn nuốt chửng cả làng Mai xóm Núi

Trong nhà nó cứ vui như mở hội

Tiệc tùng luôn, xóc đĩa, tổ tôm tràn

Dựng cổng chào, hương án, đón xe quan

Bật rạp lớn, thui bò non, hạ thọ

Tây với Nhật ra vào lố nhố

Bắt phu, cướp thóc

Nghênh ngang súng ngắn gươm dài

Khắp cả vùng ngậm đắng nuốt cay

Trời nghiêng đất lệch

Xem thêm:  Lời ru bên biển - Hiền Nguyễn

*

Mẹ Đinh chết, gói lạt tre chiếu rách

Xé giát giường làm bó đuốc, đưa đêm

Trước lúc xuôi tay bà chỉ ước ao thèm

Một bát canh cần cá quả

Tiền chẳng một chinh, Đinh đã hết đường xoay xỏa

Nhà lý Cời cá béo sống đầy chum

Đinh đánh liều lấy trộm một con

Về nấu bát canh cho mẹ

Trời xiêu bóng xế…

Đinh múc canh bưng đến cạnh giường

Nhưng mẹ Đinh tay đã bắt chuồn chuồn

Không ăn được nữa

Đinh trợn mắt, rụng rời nghẹn thở

Bát canh rơi vỡ tan tành…

Tối hôm sau tôi đến tìm Đinh

Cuối xóm đường đi lút cỏ

Rờn rợn mùi hương

Lều tối lóe lên ba chấm đỏ

Đinh đang quỳ khấn nỉ non

“Mẹ có khôn thiêng phù hộ cho con…”

Biết tôi đến, Đinh đứng lên, bí mật:

“Tao đi thật, chuyến này đi thật

Tao định rủ mày, hai đứa với nhau…”

Tôi hỏi: “Đi đâu?”

Nó rằng: “Không phải hỏi

Đâu cũng được, Sơn Tây, Hà Nội

Thân lập lấy thân

Hai bàn tay làm lấy mà ăn

Không để đói, không để ai đánh chửi”

Dằng dặc trời sao chấp chới

Gió may sương muối rét tê người

Hai đứa vòng qua ngõ lý Cời

Dừng lại ngó tòa nhà tây cao ngất

Cửa kính xanh lè, tường vôi trắng toát

Đừng lù lù như con Mãng Xà Vương

Tu luyện lâu năm, chắn lối ngăn đường

Đinh chửi một câu, rút súng cao su lắp đạn

Giơ chạng ổi kéo căng dây, nó bắn

Nghe một tiếng choang

Một khung kính cửa vỡ tan

Đàn chó sủa ầm hốt hoảng

Hai đứa vội vàng ba chân bốn cẳng…

Trời rét

Đêm khuya

Đò vắng

Cởi áo quần hai đứa lội qua sông

Tưởng mình như hai gã tiểu đồng

Lặn lội tìm Tiên xin phép lạ

Nghĩ tới mẹ cùng em, bỗng dưng tôi nhớ quá!

Qua sông. Trời sắp sáng rồi

Ngoảnh trông xóm Núi bồi hồi

Chắc mẹ đêm qua lại khóc

Xóm Núi sương giăng

Mặt trời chưa mọc

Đó đây nghe đã rộn canh gà

Bỏ làng đi năm bốn mươi ba6

Hai đứa mới mười sáu tuổi…

Nam Định 1961

  1. Trận lụt năm 1929 [↩]
  2. Bản trường ca dân gian kể về nỗi niềm của người con gái nghèo [↩]
  3. Sở mộ phu làm đồn điền, vào Nam Kỳ hoặc đi các thuộc địa của Pháp [↩]
  4. Hải Dương [↩]
  5. Bắc Giang [↩]
  6. 1943 [↩]